Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2016

Luật quốc tế về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa


Lời tòa soạn: Tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN là tranh chấp dài nhất, phức tạp nhất, trên vùng biển rộng lớn nhất, nhiều đảo nhất và liên quan đến nhiều bên nhất trong lịch sử các tranh chấp thế giới. Tranh chấp được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhất, tốn nhiều giấy mực nhất trong thời gian qua nhằm tìm kiếm một giải pháp công bằng có thể chấp nhận.

Nhằm cung cấp thêm thông tin liên quan đến vấn đề này, Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu công trình nghiên cứu về luật quốc tế và chủ quyền  trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của TS Nguyễn Hồng Thao. Nội dung chính đăng tải được trích từ cuốn sách Việt Nam và các  tranh  chấp  biển  trong  biển Đông của TS Nguyễn Hồng Thao.
Cuốn sách này đã được tặng Giải thưởng quốc tế INDEMER năm 2000 của Viện Luật kinh tế biển Công quốc Monaco cho các tác phẩm luật viết bằng tiếng Pháp xuất sắc nhất trong 1996-2000. Bản dịch  tiếng Việt do tác giả thực hiện, bám  sát  trung  thành bản tiếng Pháp có cập nhật một số sự kiện mới.

Kỳ 1 - Cuộc tranh chấp phức tạp
Tranh  chấp  chủ  quyền  trên  hai  quần  đảo Paracels và Spratlys  (Hoàng Sa và Trường Sa  theo tên  gọi VN, Tây  Sa  và Nam  Sa  theo  tên  gọi Trung Quốc) nằm giữa biển Đông đã  tồn  tại từ  trăm năm nay. Đó  là những  tranh chấp  lâu đời nhất giữa nhiều nước cùng  yêu  sách  chủ quyền trên các đảo, một cuộc tranh chấp kéo dài cho đến tận ngày hôm nay mà chưa đạt được bất kỳ một giải pháp pháp lý bền vững  nào.

Cuộc đua tranh có quy mô và sắc thái khác từ sự phát triển  nhanh chóng  gần đây của Luật  Biển quốc tế  và khả năng phát  hiện  được những mỏ dầu có thể khai thác được nằm dưới đáy biển của hai quần đảo. Công ước của Liên Hiệp Quốc về  Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 có hiệu lực từ năm 1994 cho phép  các quốc gia ven biển có quyền mở  rộng lãnh hải 12 hải  lý, vùng đặc quyền kinh  tế 200 hải  lý và thềm lục địa.Nó còn phức tạp hơn với nghĩa là tranh chấp lúc thì bùng lên gay gắt, lúc lại lắng xuống với những thay đổi phức tạp từ phía các bên có can dự trực tiếpvào cuộc tranh chấp. Lúc đầu, cuộc tranh chấp chỉ  liên quan trực tiếp đến các đảo. Do vị  trí địa  lý, các đảo này cho phép quốc  gia  ven  biển chiếm hữu  chúng không chỉ quyền kiểm soát thông thương hàng hóa trong  biển Đông mà  còn quyền sử dụng chúng như các căn cứ hải quân ban đầu nhằm mục đích quốc phòng.
Sự phát triển của luật biển quốc tế đem lại nhiều lợi ích cho quốc gia ven biển như khả năng khai thác các tài nguyên thiên nhiên từ  biển: dầu mỏ, nguồn lợi  thủy sản, khoáng sản, nhưng cũng làm nảy sinh vấn đề phân định vùng biển và thềm lục địa giữa các quốc gia có vùng biển chồng lấn. Giải quyết vấn đề phân định biển luôn gắn  liền  với vấn đề tranh chấp lãnh thổ, đảo.
Theo quy định của UNCLOS 1982,  các đảo, đá  hoặc có  thể  có  vùng  lãnh  hải  12  hải  lý,  vùng  đặc  quyền kinh  tế 200 hải  lý và  thềm  lục địa hoặc chỉ có vùng lãnh hải 12 hải  lý, căn cứ vào một số điều kiện nhất định. 
Việc  Công  ước  quy  định  không  rõ  ràng  như vậy  càng  làm  tình  hình  tranh  chấp  chủ  quyền  trên hai quần đảo thêm phức tạp. Nếu các đảo  thuộc hai quần đảo có quyền  có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa  riêng, thì với vị  trí nằm giữa biển, hai quần đảo sẽ đem lại cho quốc gia sở hữu quyền kiểm soát hầu hết biển Đông.
Nó cũng đưa đến bức tranh chồng lấn yêu  sách của các  nước trong biển Đông đòi hỏi phải giải quyết. Nếu các đảo  thuộc hai quần đảo chỉ có quyền có  lãnh hải 12 hải  lý  thì vùng biển của  các quần đảo  này sẽ không chồng lấn  lên  thềm lục  địa và vùng đặc  quyền kinh tế của các nước, giảm bớt tranh chấp.
Trên  thực  tế,  tranh  chấp  phức tạp  thêm chính  là do nguyện vọng của các quốc gia ven biển muốn cho một số đảo, đá, bãi ngầm ngoài khơi không có người ở này được hưởng quy chế pháp  lý đầy đủ  của một đảo. Đúng là luật biển quốc tế mới cho phép các quốc gia ven biển được yêu sách một vùng thềm lục địa và một vùng đặc quyền về kinh tế rộng hai  trăm hải  lý xung quanh các đảo nổi thường xuyên  khi  thủy  triều  lên.  Nhưng  thực tế vẫn có các đảo không thích hợp cho con người đến ở hoặc  cho một  đời  sống  kinh  tế  riêng  có  thể  đòi  hỏi cùng một  quy  chế  như  trên ([1]).  Luật  biển  hiện  đại  đó làm tăng thêm giá trị địa chiến lược của hai quần đảo và  các  bên  tranh  chấp  chính  là  về  vai  trò  địa  chiến lược mới đó của hai quần đảo.
Các  tranh chấp  trên biển Đông, ngoài ý nghĩa về chủ quyền lãnh thổ, lợi ích chiến lược còn  là  quyền sở hữu và khai thác tài  nguyên,  đặc biệt  là  tài  nguyên dầu mỏ. Tranh chấp chủ quyền các đảo và vùng biển không dễ dàng được  giải  quyết  vì  liên  quan  không  chỉ  yếu  tố  luật pháp mà còn cả về lịch sử, ý chí dân tộc và kinh tế.
Mục tiêu của cuộc tranh chấp dai dẳng giờ đây không chỉ là các đảo chính mà chính là các vùng biển rộng lớn bao quanh chúng nhằm kiểm soát được toàn bộ hoặc chỉ một phần biển này. Hoàng Sa, Trường Sa do CHXHCN Việt Nam xác lập chủ quyền; CHND Trung Hoa, lãnh thổ Đài Loan cùng yêu cầu tương tự. Riêng Trường Sa, Philippines chỉ  vào cuộc từ năm 1956, Malaysia từ năm 1979 và Brunei yêu sách một phần nhỏ từ năm 1993. 

Bản đồ Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa

Tòa soạn Báo NTNN vừa tiếp nhận một cuốn sách cổ được xuất bản năm 1912, trong đó có đính kèm bản đồ khoáng sản cổ do chính người Trung Quốc xây dựng.
Bản đồ đính kèm trong cuốn sách được xuất bản năm 1911, do nhà Xuất bản Thượng Hải (Trung Quốc) ấn hành, trong đó, phần lãnh thổ của Trung Quốc được giới hạn bằng đường kẻ viền (để phân biệt với lãnh thổ các nước láng giềng) chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam.
Điều này thêm một lần nữa khẳng định, hơn 100 năm trước chính người Trung Quốc đã thừa nhận không có Hoàng Sa, Trường Sa.


Trong bản đồ, những hình vẽ chi tiết về nguồn tài nguyên khoáng sản của Trung Quốc như các mỏ quặng, dầu khí, khí đốt…và những điểm khai thác đều gói gọn trong lãnh thổ Trung Quốc từ đảo Hải Nam trở vào. Thậm chí, vào thời điểm năm 1911, những điểm vẽ cách mờ, miêu tả phần đường ray sẽ được xây dựng trong tương lai cũng chỉ giới hạn tận cùng là đảo Hải Nam.
Tấm bản đồ này được đính kèm trong cuốn sách “Old Forces in New China” của tác giả George Lanning. Ông George Lanning sinh năm 1852, mất năm 1920, từng là Hiệu trưởng của Trường công lập Thượng Hải, đồng thời là tác giả của cuốn sách nổi danh “Wild life in China” (tạm dịch Cuộc sống hoang dã ở Trung Quốc).
Trong cuốn “Old Forces in New China”, ở chương về Hải quân Trung Quốc (từ trang 99 đến 105), George Lanning cũng viết lại quá trình phát triển của lực lượng hải quân trong giai đoạn khai sinh đến thời điểm năm 1912. Theo đó, chú thích đậm nét của ấn bản này (trang 105) cho biết, tàu thuyền của Hải quân Trung Quốc chỉ đóng dồn trú ở điểm xa nhất là đảo Hải Nam.

Trao đổi với phóng viên NTNN, anh Trần Mạnh Tuấn - bạn đọc cung cấp cuốn sách và bản đồ quý nói trên cho biết, cuốn sách này anh đã đặt mua ở Mỹ, từ nhà sưu tầm sách cổ nổi tiếng Gregory Gamradt. Anh Tuấn là một nhà kinh doanh thiết bị ngành ảnh, cho biết việc đi tìm những cuốn sách cổ có bằng chứng rõ ràng về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa đơn giản là thể hiện lòng yêu nước.
Anh Tuấn cũng cho biết, quá trình mua sách khá phức tạp vì cuốn sách xuất bản đã quá lâu, việc bảo quản và gửi về Việt Nam qua hệ thống EMS phải hết sức cẩn trọng, để tránh bị rách, nát, thất lạc. Anh Tuấn nhận định, không khó để tìm mua những cuốn sách cổ như vậy, bởi trên thế giới còn nhiều tài liệu chứng tỏ Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
Bản đồ khoáng sản và cuốn sách "Old Forces in New China" của nhà sưu tầm Gregory đã có 2.400 phản hồi tích cực trên mạng đấu giá Ebay. Anh Tuấn là một trong những người may mắn được sở hữu tấm bản đồ và cuốn sách giá trị này.

Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa

Một thực tế không thể chối cãi, Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam. Điều này vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế có liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ quốc gia.


Chiến thuật lấn chiếm “ Đục nước béo cò”.
Việc Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, buộc quân Pháp phải rút khỏi Việt Nam tháng 4 năm 1956 và để khoảng trống bố phòng ở Biển Đông, khiến các nước trong khu vực, trong đó có Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) và Philippines cho là cơ hội tốt để đưa lực lượng quân sự ra chiếm đóng trái phép một số đảo ở Hoàng Sa cũng như Trường Sa của Việt Nam: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đánh chiếm nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa, Đài Loan đánh chiếm đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa…
Ngày 22/8/1956, song song với việc đưa lực lượng hải quân ra quần đảo Trường Sa để bảo vệ quần đảo này trước những hoạt động xâm lấn của các lực lượng nói trên, Việt Nam Cộng Hòa ( VNCH ) đã tổ chức một số hoạt động tại quần đảo Hoàng Sa, như : Tổ chức đoàn nghiên cứu thủy văn do Saurin dẫn đầu; cho phép kỹ nghệ gia Lê Văn Cang tiến hành khai thác phốt phát ở Hoàng Sa. Từ năm 1957, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH đã cử một đại đội thủy quân lục chiến ra quản lý, bảo vệ quần đảo Hoàng Sa thay thế cho quân của đại đội 42 thuộc tiểu đoàn 142.
Ngày 20 tháng 10 năm 1956, Chính quyền VNCH ra sắc lệnh 143/VN về việc đổi tên các tỉnh miền Nam và đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy.
Ngày 7 tháng 5 năm 1957, tàu vận tải Hàn Giang đã đến Nha Trang để chuyên chở một đại đội của tiểu đoàn thủy quân lục chiến ra đồn trú tại quần đảo Trường Sa. Tàu Hàn Giang rời Nha Trang đi Trường Sa ngày 9 tháng 5 năm 1957.
Ngày 21 tháng 2 năm 1959, CHND Trung Hoa cho một số lính đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa nhằm đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Lực lượng quân đội VNCH đã phá tan được âm mưu này, 82 “ngư dân” và 5 thuyền đánh cá vũ trang đã bị bắt giữ và bị áp giải về giam tại Đà Nẵng, sau đó được trả cho Trung Quốc.
Năm 1960, VNCH đã bổ nhiệm ông Nguyễn Bá Thược, cán bộ hành chính hạng I tại Tam Kỳ, Quảng Nam nhận chức vụ Phái viên hành chính Hoàng Sa; ngày 27 tháng 6 năm 1961 bổ nhiệm ông Hoàng Yêm giữ chức vụ Phái viên hành chính Hoàng Sa.
Ngày 13 tháng 7 năm 1961, VNCH sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam; tại Nghị định số 709-BNV-HCĐP-26 ngày 21 tháng 10 năm 1969 của Thủ tướng VNCH, xã Định Hải được sáp nhập vào xã Hòa Long, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
Ngày 11 tháng 4 năm 1967, VNCH ban hành Nghị định số 809-NĐ-DUHC cử ông Trần Chuân giữ chức Phái viên hành chính xã Định Hải, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
Ngày 13 tháng 7 năm 1971, tại Hội nghị ASPEC(Conseil de L’Asie et du Pacifique) tại Manila, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH Trần Văn Lắm đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Ngày 6 tháng 9 năm 1973, tổng trưởng Nội vụ VNCH kí Nghị định số 420-BNV-HCĐP/26 sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
Ngày 24 tháng 9 năm 1973, VNCH thông báo dự định tiến hành khảo sát dầu lửa khu vực ngoài khơi bờ biển miền Trung, đối diện với quần đảo Hoàng Sa.

Tìm hiểu về tàu ngầm Kilo của Việt Nam


Viettimes -- Là binh chủng đặc biệt - lực lượng tiến công chủ lực của hải quân, tàu ngầm luôn sẵn sàng thực hiện những nhiệm vụ nặng nề nguy hiểm, có tính quyết định trên chiến trường. Tàu ngầm lớp Kilo của Nga đã thể hiện năng lực chiến đấu cao trong chiến dịch chống khủng bố ở Syria.
Sự phát triển của công nghệ hiện đại đã xuất hiện hai chủng loại tàu ngầm khác nhau, đó là tàu ngầm năng lượng hạt nhân và tàu ngầm diesel điện (bao gồm tàu ngầm Kilo đang có trong biên chế của hải quân nhân dân Việt Nam). cả hai chủng loại tàu đều có những tính năng kỹ thuật khác nhau, từ đó mỗi loại tàu ngầm có một ưu điểm riêng biệt và có những nhiệm vụ đặc trưng riêng.
Hiện nay, các cường quốc hải quân, sở hữu các tàu ngầm hạt nhân, đang có xu hướng nâng cấp, hiện đại hóa và phát triển các tàu ngầm hạt nhân đa nhiệm, có khả năng thực hiện những nhiệm vụ chiến lược, đồng thời cũng thực hiện các nhiệm vụ thông thường cấp chiến dịch và chiến thuật.

Trong lĩnh vực tác chiến cấp chiến dịch chiến thuật, tàu ngầm diesel - điện như tàu Kilo đóng vai trò lực lượng tấn công chủ lực, đặc biệt trong các vùng nước giới hạn hẹp. Thời bình, bảo vệ an ninh biên giới biển, các khu vực lợi ích kinh tế, tàu ngầm diesel – điện là lực lượng thường trực chiến đấu quan trọng trong hệ thống phòng thủ vùng biển đất nước.
Các nhiệm vụ chủ yếu của tàu ngầm diesel điện
Trong thời bình
Tìm kiếm, truy quét và theo dõi các tàu ngầm chiến lược của đối phương, bí mật theo sát và nắm chắc mọi hoạt động các cụm binh lực hải quân chủ lực (CVBG) của đối phương, sẵn sàng tiến hành các đòn tấn công nhanh chóng và quyết liệt, bẻ gãy mọi âm mưu xâm phạm chủ quyền, xâm lược biên giới, hải đảo khi xảy ra tình huống chiến tranh.
- Tiến hành các hoạt động tuần tiễu, sẵn sàng tác chiến trên các tuyến phòng thủ chống ngầm;
- Luôn duy trì và tăng cường khả năng chiến đấu của binh chủng, duy trì vũ khí trang bị, phương tiện ở cấp độ sẵn sàng chiến đấu cao nhất.
- Không để đối phương nắm bắt được những hoạt động của lực lượng tàu ngầm (căn cứ, các tuyến cơ động, vị trí đóng quân tạm thời, hành lang tuần tiễu chống ngầm ..v.v).
Trong thời chiến
Nhiệm vụ quan trọng thứ nhất của tàu ngầm là tiêu diệt các tàu ngầm các loại của đối phương; thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trên tuyến phòng ngự chống ngầm yểm trợ lực lượng hải quân tham gia tác chiến; bí mật, bât ngờ tiêu diệt các cụm tàu chủ lực tấn công của đối phương, các chiến hạm và các tàu vận tải; triển khai các trận địa thủy lôi phục kích hoặc phòng thủ.
Ttiến hành các hoạt động trinh sát, dẫn đường cho các lực lượng không – hải tấn công lực lượng hải quân địch; chỉ thị mục tiêu cần tiêu diệt – bao gồm cả chiến hạm nổi và tàu ngầm; đổ bộ lực lượng đặc công, đặc nhiệm, trinh sát, vận chuyển vũ khí đạn, nhu yếu phẩm cho các vị trí xung yếu cần giữ bí mật hoặc bị phong tỏa.
Tiến hành các hoạt động trinh sát tuyến hành quân, khí tượng, thủy văn môi trường phục vụ cho các hoạt động tác chiến: cứu hộ các phi hành đoàn không quân hải quân; tấn công tiêu diệt các mục tiêu trên khu vực đối phương đánh chiếm hoặc các mục tiêu quan trọng trong lãnh thổ đối phương.

Kế hoạch của Trung Quốc ở Biển Đông


Gần đây "thời báo Châu Á trực tuyến" đăng bài viết của Billy Tea, một chuyên gia nghiên cứu thuộc Diễn đàn Thái Bình dương của Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS) ở Mỹ, với nhan đề "Đại kế hoạch của Trung Quốc ở Biển Đông".
Theo Billy Tea, những chính sách đối ngoại chiến lược "bất xuất đầu" và "thao quang dưỡng hối" được Bắc Kinh dịch một cách văn vẻ là "không xuất đầu lộ diện" và "giấu mình chờ thời" vẫn còn chút liên quan nhưng cũng đang thay đổi sang một thái độ ngày càng quyết liệt hơn. Trung Quốc không còn "giấu mình chờ thời" trong bóng tối về các khả năng của họ mà đang ngày càng sẵn sàng "lên cơ bắp" sức mạnh quân sự và các kỹ năng công nghệ của họ. Giờ đây, Trung Quốc đã thể hiện sự sẵn sàng trong việc đối đầu với các bên có tuyên bố chủ quyền đối địch ở Biển Đông.

Đằng sau sự tương tác của chuỗi "hành động - phản ứng" xung quanh những vụ tranh chấp, Trung Quốc tiếp tục hành động nhanh chóng theo kế hoạch lâu dài và nhiều giai đoạn để cuối cùng khẳng định sự thống trị đối với khu vực Biển Đông. Kế hoạch này bao gồm 3 bộ phận hợp thành rõ ràng, cụ thể là:
Tăng cường các lực lượng quân sự, đặc biệt là hải quân và liên quân
Tháng 03/2014, Trung Quốc đã công bố nhân sách quốc phòng giai đoạn 2014-2015, với 132 tỷ USD được phân bổ cho chi tiêu quân sự, tăng khoảng 12% so với năm trước đó.
Phát triển quân sự của Trung Quốc có nhiều mục đích và sẽ không chỉ nhằm bảo vệ hay khẳng định các tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ của họ ở Biển Đông và biển Hoa Đông mà còn được sử dụng để răn đe đối với tình hình ở Đài Loan và "hất" Mỹ khỏi khu vực Tây Thái Bình Dương. Những nỗ lực hiện đại hoá hải quân của Trung Quốc bao gồm: các tên lửa đạn đạo chống hạm (ASBM); các tên lửa hành trình chống hạm (ASCM); các tàu ngầm; các tàu mặt nước; máy bay và sự hỗ trợ của các hệ thống C4SR (chỉ huy, kiểm soát, thông tin liên lạc, các máy tính, tình báo, giám sát và do thám); bảo trì và hậu cần; học thuyết hải quân; chất lượng quân sự; giáo dục và huấn luyện.
Cải thiện hình ảnh quốc tế
Trung Quốc đã bị chỉ trích rộng rãi vì họ thiếu bằng chứng pháp lý để ủng hộ tấm bản đồ “đường 9 đoạn” (còn gọi là đường lưỡi bò hay đường chữ U) tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn diện tích Biển Đông.
Trong quá khứ, sự chỉ trích quốc tế như vậy hẳn sẽ có ảnh hưởng hạn chế đối với chính sách của Bắc Kinh, như đã thể hiện qua việc họ thiếu phản ứng đối với sự phản đối kịch liệt của cộng đồng quốc tế sau vụ Thiên An Môn năm 1989. Trung Quốc giờ đây đang phải lo lắng hơn nhiều về hình ảnh toàn cầu của họ.
Khi vấp phải sự chỉ trích của cộng đồng quốc tế trong thời gian gần đây về những hành động của mình ở Biển Đông, Trung Quốc đã cố gắng tìm cách củng cố những tuyên bố của họ qua những kháng cáo ngược lên Liên Hiệp Quốc (LHQ). Chiến thuật mới này, mặc dù không kêu gọi sự can thiệp đa phương vào những tranh chấp này, nhưng được coi là sự phản ứng đối với việc Philippines đệ đơn lên toà án quốc tế về Luật Biển (ITLOS) để khẳng định chủ quyền của họ đối với các khu vực tranh chấp .
Củng cố các tuyên bố pháp lý
Gần đây Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã gửi lên LHQ một báo cáo về "hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981", cung cấp một phác thảo toàn diện về những yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Paracel (Hoàng Sa), trong đó có một tuyên bố của Chính phủ Trung Quốc được ban hành ngày 04/09/1958.
Một phương pháp khác mà Trung Quốc đang sử dụng để hỗ trợ những tuyên bố chủ quyền của họ là vận chuyển nguyên vật liệu tới những bãi đá ngầm và bãi cạn mà họ đã kiểm soát ở Biển Đông để làm công việc được gọi là "xây dựng đảo" nhằm hỗ trợ các tuyên bố chủ quyền của họ theo định nghĩa về lãnh thổ đã được quy định trong công ước LHQ về Luật Biển. Trung Quốc dường như đã lên kế hoạch di chuyển những cộng đồng dân cư lâu dài tới những vùng lãnh thổ đã được tạo ra, qua đó tăng cường sự khẳng định về mặt pháp lý của họ đối với các thực thể và các hòn đảo nhất định ...
Việc Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Hoàng Sa vừa qua là giai đoạn mới nhất trong Đại kế hoạch của Bắc Kinh nhằm khẳng định chủ quyền của họ đối với Biển Đông.

Lộ trình đóng chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Theo đánh giá của giới phân tích chính trị, Trung Quốc đang thực hiện “biến đá thành đảo” trên bãi đá Gạc Ma và một số đảo khác trên Biển Đông. Đây là một trong những hành động nằm trong chiến lược trên Biển Đông của Trung Quốc.

Chiến lược “Biển xanh”
Trung Quốc xác định rõ mục tiêu cần đạt được trong chiến lược biển Đông đó là thiết lập lộ trình “chiếm đoạt” biển Đông theo yêu sách “đường lưỡi bò” và thực hiện chiến lược này một cách chắc chắn, quyết đoán.
Chiến lược trên biển Đông của Trung Quốc được giới phân tích gọi là “chiến lược biển xanh”. Theo chiến lược này, Trung Quốc đặt nhiệm vụ cho lực lượng hải quân: (1) Bảo đảm các con đường tiếp cận trên biển tới Đài Loan; (2) Tiến hành các chiến dịch ở phía Tây Thái Bình Dương để không có các lực lượng thù địch tự do hành động; (3) Bảo vệ các tuyến giao thông đường biển của Trung Quốc; (4) Chặn các tuyến giao thông đường biển của kẻ thù; (5) Duy trì sức mạnh trên thế giới, sẵn sàng tấn công đối phương.
Trung Quốc cho rằng, Biển Đông không chỉ dồi dào về nguồn lợi hải sản, năng lượng, mà đó còn là con đường duy nhất mà lực lượng tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc có thể đi ra Đại dương một cách an toàn.
Lợi ích của các bãi đá trong chiến lược Biển Đông Trung Quốc
Việc biến Gạc Ma thành căn cứ quân sự nổi sẽ giúp Trung Quốc nối dài cánh tay vươn ra Trường Sa bởi tại đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa, Trung Quốc đã xây xong đường băng và sau khi đắp đất tôn nền tại một số bãi đá khác sẽ tạo nên nhịp cầu để khống chế biển Đông.
Theo Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới chính phủ, hoạt động “xây nhà trong sân nhà người ta” của Trung Quốc đã được thực hiện từ khá lâu, từ sau khi Trung Quốc đánh chiếm nhóm đảo phía Tây Bắc, quần đảo Trường Sa của vào năm 1958. Mục đích của Trung Quốc  nhằm biến những bãi chìm, đảo đá này thành những đảo nổi, xây căn cứ quân sự phục vụ mưu đồ trên Biển Đông.
Sau khi xây dựng căn cứ nổi tại một số bãi đá chiếm đóng trái phép ở biển Đông, Trung Quốc sẽ mở rộng tầm hoạt động của không quân tại khu vực này, cơ sở để thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) như đã thực hiện ở biển Hoa Đông. Khi đó, tình hình tại khu vực này sẽ trở nên vô cùng phức tạp và nguy hiểm bởi Trung Quốc kiểm soát cả vùng trời và vùng biển với lực lượng áp đảo. Bởi sau khi thiết lập ADIZ cùng căn cứ không quân, hải quân ở Gạc Ma, Trung Quốc sẽ khắc phục được những điểm yếu khi thực hiện “âm mưu độc chiếm” biển Đông.
Một trong những nguyên nhân khiến Trung Quốc thực hiện khá thuận lợi việc đắp đất tôn nền, biến đá thành đảo tại Gạc ma, Ga Ven, Chữ Thập, Tư Nghĩa, Si Bi và Châu Viên (nằm trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam) là tận dụng triệt để kẽ hở của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS). Bắc Kinh đang muốn dư luận trong và ngoài khu vực coi Trung Quốc là cường quốc - phải tuân theo những nguyên tắc và luật pháp của Trung Quốc.
Khi Trung Quốc xây được căn cứ quân sự (phi pháp) ở Gạc Ma, Chữ Thập và đưa radar ra khu vực này thì bán kính tác chiến của quân đội Trung Quốc ở khu vực biển Đông sẽ được mở rộng. Cơ sở quân sự của Trung Quốc tại Gạc Ma sẽ có chức năng theo dõi hoạt động của hải quân Mỹ và các nước trong khu vực.
Hành động của Trung Quốc trên bãi đá Gạc Ma chứng tỏ Trung Quốc muốn hiện thực hóa giấc mơ “đường lưỡi bò” và mở rộng sự hiện diện quân sự tại quần đảo Trường Sa. Hành động của Trung Quốc chắc chắn sẽ khiến căng thẳng trên biển Đông tiếp tục leo thang.
Hiện nay, chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương đang ở trong trạng thái “thiếu sinh khí”, trừ phi áp dụng những biện pháp thiết thực và có hiệu quả, nếu không đến năm 2025, Trung Quốc sẽ trở thành “ông trùm châu Á - Thái Bình Dương”. Mỹ cũng cho rằng, sự trỗi dậy của Trung Quốc ở khu vực Tây Thái Bình Dương là một thách thức đối với hải quân Mỹ.
Theo Thông tấn xã Đài Loan (06/09/2014), Cựu Thứ trưởng Quốc phòng Đài Loan, ông Lâm Trung Bân nhận định rằng, việc Trung Quốc  cải tạo tại các đảo Gạc Ma, Gaven, Chữ Thập, Huy Gơ, Xu Bi và Châu Viên thuộc quần đảo Trường Sa là nước “cờ nguy hiểm”, với âm mưu tăng cường khả năng không chế và kiểm soát toàn bộ biển Đông. Nguy hiểm hơn nữa là các loại  chiến đấu cơ đang trong biên chế Quân đội Trung Quốc hiện nay như J-11 hay J-16 có bán kính tác chiến khoảng 1500 km, nếu đặt căn cứ trên 6 đảo ở Trường Sa, sẽ khiến phạm vi tác chiến của Không quân Trung Quốc bao trùm toàn bộ Đông Nam Á.
Cũng theo ông Lâm Trung Bân, Trung Quốc có thể lắp đặt hệ thống radar và thiết bị nghe trộm tại các đảo trên, nhằm kiểm soát các hoạt động của Việt Nam Malaysia, Singapore, Indonesia và Philippines. Ngoài ra, việc đảo hóa 6 bãi đá ở Trường Sa mà Trung Quốc đã và đang triển khai sẽ giúp Bắc Kinh tạo ra gần 10 “điểm cao chiến lược” ở Biển Đông.
Liên quan đến vấn đề trên, trang tin (09/2014) đưa tin: Trước năm 2013, đảo Gạc Ma chỉ là một bãi đá nhỏ nhưng lại có vị trí chiến lược. Từ tháng 02/2014, Quân đội Trung Quốc đã sử dụng 03 tàu đổ bộ cỡ lớn cải trang thành tàu dân sự vận chuyển vật liệu và đất đến Gạc ma và Huy Gơ để đắp nền xây dựng đảo nhân tạo. Phương thức đắp nền xây dựng đảo nhân tạo ở Trường Sa do Viện Quy hoạch công trình Hải quân Trung Quốc thiết kế.
Created By Sora Templates